Các gốc tự do là các phân tử không ổn định trong cơ thể có thể làm hỏng DNA của tế bào, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh như ung thư.

Các gốc tự do là các tiểu đơn vị hóa học (phân tử, nguyên tử, ion) có một electron đơn độc ở lớp vỏ ngoài cùng. Với áp lực mạnh của electron đơn độc, gốc tự do có khả năng tương tác với tất cả các phân tử của tế bào lân cận, phá vỡ hoàn toàn màng tế bào, gây tổn thương gen hoặc hủy diệt toàn bộ tế bào. tập hợp các ô.

Quá trình trao đổi chất bình thường trong cơ thể có thể tạo ra các gốc tự do một cách tự nhiên. Ví dụ, các gốc tự do được tạo ra trong khi phân hủy các chất dinh dưỡng để cung cấp năng lượng cần thiết cho cơ thể hoạt động. Bên cạnh đó, một số tác nhân như khói thuốc lá, tia cực tím, bức xạ, khí phóng xạ như radon, tiếp xúc với hóa chất từ ​​môi trường và công việc, một số loại virus, ô nhiễm không khí. cũng có thể kích thích cơ thể tạo ra nhiều gốc tự do hơn.

Một khi có quá nhiều gốc tự do được tạo ra, cho dù do tiếp xúc với các chất làm tăng nguy cơ ung thư hay do các quá trình bình thường của cơ thể, chúng đều có thể gây hại. Các gốc tự do có thể làm hỏng DNA của tế bào, đôi khi, gây đột biến làm tăng nguy cơ mắc các bệnh như bệnh tim, ung thư.

Các gốc tự do có thể được sản xuất nhiều hơn khi tiếp xúc với hóa chất độc hại và nơi làm việc bị ô nhiễm.  Ảnh: Freepik

Các gốc tự do có thể được sản xuất nhiều hơn khi tiếp xúc với hóa chất độc hại và nơi làm việc bị ô nhiễm. Hình ảnh: Freepik

Chất chống oxy hóa là những phân tử có thể trao cho gốc tự do một điện tử để kết hợp với gốc tự do mà không làm thay đổi tính chất của chúng, đảm bảo tính ổn định. Nhờ đó, chúng ít gây ra các phản ứng hóa học bất thường trong cơ thể. Tuy nhiên, nếu mất cân bằng giữa gốc tự do và chất chống oxy hóa sẽ gây ra stress oxy hóa hay còn gọi là stress oxy hóa. Stress oxy hóa có thể làm giảm đáng kể khả năng miễn dịch của cơ bắp, khiến cơ thể trở nên nhạy cảm hơn và dễ bị mầm bệnh tấn công.

Tổn thương DNA cũng có thể ảnh hưởng đến các gen ức chế khối u. Trong khi đó, các gen ức chế khối u tạo ra các protein sửa chữa DNA bị hư hỏng hoặc loại bỏ các tế bào bị hư hỏng. Khi các gen ức chế khối u trở nên bất thường, các tế bào có thể phát triển ngoài tầm kiểm soát dẫn đến ung thư.

Làm thế nào để ngăn chặn các gốc tự do

Các chất chống oxy hóa như vitamin E, vitamin A, beta-caroten… giúp chống lại các gốc tự do và stress oxy hóa. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chế độ ăn giàu chất chống oxy hóa có liên quan đến việc giảm nguy cơ mắc nhiều bệnh mãn tính, bao gồm cả ung thư. Nhiều chất chống oxy hóa có trong thực phẩm như quả mọng, trà xanh... góp phần ngăn ngừa sự hình thành các gốc tự do và giảm thiểu những tổn thương mà chúng gây ra trong cơ thể.

Không thể tránh hoàn toàn các gốc tự do vì chúng là một phần của quá trình tự nhiên của cơ thể. Nhiều người không thể tránh khỏi việc tiếp xúc với hóa chất độc hại tại nơi làm việc. Do đó, ăn những thực phẩm giàu "sắc cầu vồng" (đỏ; cam, vàng, trắng, nâu, xanh lá cây, xanh dương, tím...) sẽ giúp ích.

Trái cây và rau quả nhiều màu sắc rất giàu chất chống oxy hóa.  Ảnh: Freepik

Trái cây và rau quả nhiều màu sắc rất giàu chất chống oxy hóa. Hình ảnh: Freepik

Bệnh nhân ung thư có thể lo lắng về các gốc tự do và không biết có nên tăng lượng chất chống oxy hóa để chống lại nhiều tổn thương hơn hay không. Trong một số trường hợp, chất bổ sung chất chống oxy hóa có thể làm xấu đi tiên lượng đối với một số bệnh ung thư và chất bổ sung vitamin có thể làm cho việc điều trị ung thư kém hiệu quả hơn.

Mặc dù các chất bổ sung chất chống oxy hóa thường không được khuyến cáo, nhưng các bác sĩ chuyên khoa ung thư thường khuyên bệnh nhân nên ăn một chế độ ăn uống cân bằng, bổ dưỡng bao gồm nhiều loại trái cây và rau quả. Chứa chất chống oxy hóa tự nhiên.

Kim Uyên
(Dựa trên sức khỏe tốt)